Nguyễn Trung Ngạn (chữ Hán: 阮忠彥;1289–1370), tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Ông là một nhà chính trị, một đại thần có tài, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần". Cùng với Nguyễn Trung Ngạn là Trần Quang Khải, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Trần Thì Kiến, Phạm Tông Mại, Trần Nguyên Đán.
I- TIỂU SỬ:
Nguyễn Trung Ngạn sinh năm Kỷ Sửu (20-03-1289, có tài liệu ghi là năm Canh Dần, 1280).
Ông đỗ Hoàng giáp năm Giáp Thìn (1304) khi mới 16 tuổi, lần lượt giữ các chức:
· Năm 1312, Nguyễn Trung Ngạn giữ chức gián quan (một chức quan trong Ngự sử đài).
· Năm 1314, khi vua Trần Minh Tông lên nối ngôi, ông cùng Phạm Ngộ sang nhà Nguyên báo tin và dâng cống.
· Năm Tân Dậu, Đại Khánh thứ 8 (1321), Nguyễn Trung Ngạn là Ngự sử đài Thị ngự sử. Sau do bàn bạc không hợp ý vua, ông bị giáng xuống làm Thông phán châu Anh Lãng rồi lại nhờ có tài trong việc cai quản ở nơi trị nhậm mà được điều về kinh giữ chức Thiêm tri Thánh Từ cung sự quản lý mọi việc ở cung Thánh Từ, tức cung của Thái thượng hoàng.
· Năm 1326, do sai sót trong việc ghi chép quan phục của quan lại , Nguyễn Trung Ngạn lại bị điều ra làm An phủ sứ Thanh Hoá
· Năm 1329, Nguyễn Trung Ngạn theo Thượng hoàng Minh Tông đi đánh dẹp ở Đà Giang và phụng mệnh soạn sách Thực lục.
· Năm Nhâm Thân (1332), Nguyễn Trung Ngạn được thăng Nội mật viện phó sứ, giữ sổ sách ở nội sảnh cung Quan Triều (cung của vua Trần), nhưng vẫn kiêm An phủ sứ Thanh Hoá.
· Năm Giáp Tuất (1334), ông theo Thượng hoàng đi đánh giặc Ai Lao. Ai Lao trốn chạy, ông vâng mệnh ghi công ở bia Ma Nhai rồi về 5.
· Năm Đinh Sửu (1337), làm An phủ sứ Nghệ An rồi Giám tu Quốc sử viện. Ông cùng Trương Hán Siêu soạn sách Hoàng triều đại điển và bộ luật Hình thư.
· Năm Tân Tỵ (1341), Nguyễn Trung Ngạn được giao giữ chức Kinh sư Đại doãn trông coi mọi việc ở kinh thành Thăng Long (tương đương với Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ngày nay)
· Năm 1342, ông được thăng lên làm Hành khiển coi việc ở viện Khu mật.
· Năm 1355, được thăng Kinh lược sứ trấn Lạng Giang, Đại hành khiển, Thượng thư Hữu bật, Đại học sĩ, hầu ở toà Kinh Duyên, Trụ Quốc, Khai huyện bá rồi Thân Quốc công.
· Năm Canh Tuất (1370), ông mất thọ hơn 80 tuổi.
|
洞庭湖
|
Động Đình hồ
|
Hồ Động Đình (Người dịch: Trần Lê Sáng)
|
|
雲濤雪浪四漫漫,
砥柱中流屹一山。
鶴蹟不來松歲老,
妃魂猶在竹痕班。
乾坤卵破洪蒙後,
日月萍浮浩渺間。
岸芷汀蘭無限興,
片心空羡白鷗閒。
|
Vân đào tuyết lãng tứ man man,
Chỉ trụ trung lưu ngật nhất san.
Hạc tích bất lai tùng tuế lão,
Phi hồn do tại trúc ngân ban.
Càn khôn noãn phá hồng mông hậu,
Nhật nguyệt bình phù hạo diểu gian.
Ngạn chỉ đinh lan vô hạn hứng,
Phiến tâm không tiển bạch âu nhàn.
|
Tựa mây tựa tuyết sóng mênh mông,
Một núi nhô cao đứng giữa dòng.
Dấu hạc chẳng còn tùng cỗi lão,
Vết người khóc để trúc tươi ròng.
Cảnh như trời đất hồi phôi nở,
Tượng giống trăng sao buổi kết đông.
Lan ngát đầy bờ bao hứng thú,
Muốn thành nhạn biển để nhàn lòng.
|
|
北使宿丘溫驛
|
Bắc sứ túc Khâu Ôn dịch
|
Đi sứ phương bắc trú tại trạm dịch Khâu Ôn(Người dịch: Điệp luyến hoa)
|
|
挽盡天河洗甲兵,
廟堂無意事邊征。
江山有限分南北,
胡越同風各弟兄。
月滿蠻村閒夜析,
雨餘野燒樂春耕。
君恩未效涓塵報,
一個寧辭萬里行。
|
Vãn tận thiên hà tẩy giáp binh,
Miếu đường vô ý sự .
Giang sơn hữu hạn phân nam bắc,
Hồ Việt đồng phong các đệ huynh.
Nguyệt mãn man thôn nhàn dạ ,
Vũ dư dã thiếu lạc xuân canh.
Quân ân vị hiệu quyên báo,
Nhất ninh từ vạn lý hành.
|
Kéo cả Ngân Hà rửa giáp binh,
Triều đình đâu muốn việc giao tranh.
Núi sông mốc đã chia nam bắc,
Hồ Việt thói cùng nghĩa đệ huynh.
Trăng sáng thôn làng đêm kiếm củi,
Mưa chan nội cháy vụ xuân canh.
Ơn vua một chút còn chưa báo,
Đâu dám chối từ cuộc viễn chinh.
|
II- TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TRUNG NGẠN:
- Quyết định số 1046/QĐ-UB-QLDA ngày 23 tháng 02 năm 1999 về việc Đầu tư dự án xây dựng trường Tiểu học Nguyễn Trung Ngạn Q8.
- Khởi công xây dựng vào tháng 11 năm 2000
- Hoàn thành cuối tháng 7/2001.
- Khánh thành vào ngày 30 tháng 8 năm 2001.
- Ủy ban nhân dân q8 ra quyết định số 5036/QĐ-UB ngày 24 tháng 8 năm 2001 : THÀNH LẬP TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TRUNG NGẠN .